Saturday, January 23, 2016

Tổ chức hành chính và tư pháp thời Pháp thuộc


Sách GK bây giờ không dạy về lịch sử thời Pháp thuộc, chỉ nói đến mặt xấu, chỉ thấy áp bức bóc lột, không có khai hóa văn minh, nên nhiều người có cái nhìn thiên lệch, chỉ biết căm thù thực dân, đế quốc mà thôi. Nhưng cái gì chả có tính 2 mặt. Mình viết sơ lược về vấn đề này không có ý xét lại, chỉ để mọi người có đánh giá khách quan và có thể so sánh được hơn kém so với hiện tại. Nhiều bạn cho là người Pháp chỉ bóc lột, không (hoặc ít) khai hóa như người Anh, mà chả có căn cứ gì cả.

TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ HÀNH PHÁP

Sau khi thiết lập nền bảo hộ, người Pháp cải tổ nền hành chính địa phương theo phương pháp trung ương tản quyền (kiểu liên bang bây giờ), thành Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Sách bây giờ toàn chửi là thực dân Pháp “chia để trị”, nhưng họ chia ra như vậy là có nền tảng lịch sử, chứng tỏ họ hiểu lịch sử VN hơn chúng ta sau này! Thời Gia Long, sau khi lên ngôi, cũng đã chia VN theo dạng này. Bắc thành chính là Bắc kỳ, Gia Định thành chính là Nam kỳ, 2 thành này giao cho 2 viên tổng trấn cai trị, vua chỉ quản lý trực tiếp diện tích mà sau này gọi là Trung kỳ. Tây Nguyên và 1 diện tích nhỏ còn lại của Chiêm thành (vùng Ninh Thuận, Bình Thuận gì đó) vẫn được cho tự trị. Như vậy, có thể thấy người Pháp quay lại cách quản lý của Gia Long chứ họ không nghĩ ra được. Ngoài ra, người Pháp cũng để người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc sự tự trị tương đối, để tránh bị người Việt đồng hóa như sau này.
Đến thời Minh Mạng, ông thay đổi hoàn toàn việc phân chia hành chính, chuyển thành trung ương tập quyền, xóa bỏ Bắc thành và Gia định thành, vua quản trực tiếp, sáp nhập 1 phần Lào và Miên, xóa bỏ tự trị của Tây Nguyên và Chiêm (thời Gia Long thì vùng đất cũ của Chiêm do người Chiêm tự quản, cha truyền con nối, thời Minh Mạng thì quan lại người Việt trực trị). Rất có thể đây là nguyên nhân dẫn đến giặc giã thời Minh Mạng nổi lên rất nhiều, do bất mãn, điển hình là loạn Lê Văn Khôi, chính là con nuôi tổng trấn Gia Định cũ là Lê Văn Duyệt. Người Chiêm rất hận Minh Mạng, vì đã xóa sổ tàn tích của họ. Người Campuchia chắc cũng thù Minh Mạng hơn cả.

Gia Long và người Pháp chia nước VN như vậy là có lý do lịch sử. Bắc kỳ chính là đất Đại Việt cổ, tức Đàng Ngoài, Trung kỳ là đất Đàng Trong cũ, đất gốc của chúa Nguyễn, Nam Kỳ là đất Đàng Trong mới khai phá (thực ra là lấn chiếm). Vì nội chiến 300 năm dẫn đến Đàng Trong, Đàng Ngoài gần như 2 nước của người Việt, văn hóa, lối sống, ngôn ngữ rất nhiều khác biệt. Nam Kỳ gốc của Chân Lạp, người Khmer và TQ rất đông, nên cũng rất khác với 2 kỳ còn lại. Ngoài ra, với người Pháp, thì Nam Kỳ là thuộc địa, có quy chế riêng, giống như ở bên Pháp, còn Trung và Bắc kỳ là bảo hộ, Nam triều vẫn có quyền lực đôi chút, trong đó ở Trung kỳ thì vua có quyền lớn hơn so với 2 kỳ còn lại. Pháp họ chia như vậy vì cho là nhà Nguyễn có ảnh hưởng nhất ở đất gốc của chúa Nguyễn.
Đứng đầu Nam kỳ là thống đốc, các tỉnh và quận bên dưới đều do người Pháp trực trị, Nam triều không có tý quyền lực gì ở đây. Thành ra sau này vua Bảo Đại cưa bà Nguyễn Hữu Thị Lan (Nam Phương hoàng hậu) mãi mới đổ, phải chấp nhận bao nhiêu yêu sách, vì bà này con nhà đại gia Nam Kỳ, tiền có khi nhiều hơn vua! Nếu bà Nam Phương là dân 2 Kỳ kia thì gia đình bà còn phải “nạp phi”, cúng con gái cho vua mà chưa chắc đã được, làm gì có chuyện đong đẽo hì hục như vậy.

Đứng đầu Bắc kỳ là Thống sứ người Pháp, thời kỳ đầu còn có Kinh lược sứ (chính là dạng tổng trấn trước đây), thay mặt vua quản lý công việc của Nam triều. Ông Kinh lược sứ cuối cùng khá nổi tiếng là Hoàng Cao Khải, dinh Kinh lược chính là Thư viện Quốc gia ở Tràng Thi bây giờ. Sau này chức Kinh lược bị xóa bỏ, Thống sứ người Pháp quyết hết. Bắc kỳ chia thành các tỉnh, đứng đầu tỉnh lớn là tổng đốc, tỉnh nhỏ là tuần phủ; dưới tỉnh là huyện, châu (miền núi), đứng đầu là tri huyện, tri châu. Dưới huyện, châu là tổng, dưới tổng là xã hoặc làng, đứng đầu là chánh tổng và lý trưởng. Ở mỗi tỉnh có 1 viên công sứ Pháp, lý thuyết là chỉ kiểm soát nhưng thực tế là quyền to hơn tổng đốc.

Đứng đầu Trung kỳ là vua và triều đình Huế, Khâm sứ Pháp mới có thực quyền hơn cả vua, quản lý bên dưới tương đối giống Bắc Kỳ. Thời gian đầu thì vua còn đứng đầu Viện Cơ mật (Hội đồng thượng thư), sau này Khâm sứ nắm cả, vua để làm cảnh và giải quyết các việc lặt vặt, lễ nghi, chắc gần giống chủ tịch nước bây giờ! Chi tiết về triều đình Huế và các phẩm hàm thì khá dài, mình sẽ viết vào dịp khác, cũng đã nói qua ở các note khác như note về tứ trụ.

Ngoài ra, ở Bắc và Trung kỳ có các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là nhượng địa cho Pháp, người Pháp trực trị, Nam triều không can thiệp. 3 tỉnh này có vai trò không hoàn toàn giống Nam Kỳ vì nước Pháp chưa công nhận là lãnh thổ Pháp cho dù quản lý là gần giống.

Vì cách phân chia và quản lý như trên nên nếu so sánh Hongkong, Singapore với Đông Dương là không chính xác, mà chỉ có thể so sánh với Nam Kỳ, vì duy nhất Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, các xứ còn lại, bao gồm cả Cao Miên và Lào đều là bảo hộ, đứng đầu Miên, Lào cũng là Khâm sứ Pháp.

Nam Kỳ là đất mới, thuận tiện về thương mại và nông nghiệp nhất, lại được (hay bị?) hưởng trọn vẹn sự quản lý văn minh (hay bất công?) nhất của người Pháp, nên trở thành xứ phát triển nhất trên toàn cõi Đông Dương. Cho đến khi người Pháp rút hoàn toàn khỏi VN vào năm 1955 thì Sài Gòn phát triển chả kém gì Hongkong hay Singapore, Thượng Hải (cũng là nhượng địa bên Tàu). Các xứ khác thì phát triển kém hơn, nhưng các TP nhượng địa kể trên thì vẫn phát triển mạnh hơn cả.

Ở cấp xã thì từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc đều là tự trị, nghĩa là có “lệ làng”, “hương ước”, phong tục tập quán riêng, có hội đồng kỳ mục (kỳ hào) giống HĐND bây giờ, quan xã do hội đồng này bầu lên, khác hẳn bây giờ. Xã có “tòa án” riêng, có cơ quan an ninh riêng, có tài sản và thần thánh riêng (đình làng và thành hoàng làng). Kiểu tự trị này có cái hay về “dân chủ cơ sở” nhưng có cái dở là phép vua đôi khi thua lệ làng. Tâm lý đó vẫn còn đến bây giờ, điển hình là zai làng o bế gái làng, không cho zai làng khác vào cưa. Mỗi làng vẫn có thái độ cục bộ, địa phương, rõ nhất là Bắc và Trung kỳ. Các bác xung kích, dân phòng dẹp chợ bây giờ chính là mô hình an ninh tự quản thời phong kiến, đứng đầu là trương tuần. Đọc truyện “Tắt Đèn” hay “Cái thủ lợn”... sẽ thấy ở làng có các vị như Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần, Tiên chỉ (đứng đầu hội đồng kỳ hào), Lý cựu, Lý đương...dài quá mình không viết chi tiết về các chức sắc này. Hội đồng kỳ mục ở xã bao gồm các quan chức nhỏ nghỉ hưu, mấy ông thầy đồ, nho sỹ hưu trí, nhà "có điều kiện" nói chung là có vai vế trong làng. Bây giờ mấy ông quan nhỏ nghỉ hưu cũng hay được dí vào làm “kỳ hào” (như chi bộ, HĐND, Mặt trận TQ) ở tổ dân phố và phường xã, cũng là theo truyền thống này. Từ “cường hào ác bá” cũng xuất phát từ hội đồng kỳ hào này mà ra.

CƠ QUAN DÂN CỬ VÀ TƯ PHÁP

Phần này mới hay ho nhưng mỏi tay và đói, viết sau. Đọc đoạn này sẽ hiểu tại sao có vụ đầm Nọc Nạn ở Nam Kỳ, tòa xử dân thắng quan. Tư pháp ở Bắc, Trung kỳ và bây giờ không bao giờ có chuyện đó.

Dương Quốc Chính, note FB



Phần 2:

CƠ QUAN DÂN CỬ 

Vì khuôn khổ chém gió FB nên mình chỉ nói đến Nam Kỳ là chính, vì xứ này là khuôn mẫu cho 2 xứ thuộc địa nửa mùa còn lại. Ở Nam Kỳ dân chủ được 10 phần thì 2 xứ kia cứ trừ đi 1 nửa! Sự phát triển của các cơ quan dân cử (đại diện của nhân dân, giống HĐND và Quốc hội bây giờ) trải qua 3 giai đoạn, giai đoạn 1 là trước năm 1889, chỉ là sự tự phát của thống đốc Nam Kỳ, là phép thử cho nền dân chủ ở thuộc địa. Giai đoạn 2 là từ 1889-1940 là chính tổng thống Pháp ban hành văn bản về điều này, sau 7 năm thử nghiệm. Giai đoạn 3, sau năm 40 là chính quyền Vichy thân Đức ở Pháp nắm quyền, nên cũng có xu hướng trung ương tập quyền kiểu Phát xít, cắt bớt dân chủ ở các địa phương. Vì giai đoạn 1 là phôi thai, giai đoạn 2 là chuẩn mực, giai đoạn 3 ngắn hạn (có 5 năm cuối) mà gần như xóa sổ cơ quan dân cử, chính quyền chỉ định luôn, nên ở đây mình chỉ nói đến giai đoạn 2 là quan trọng nhất.

Khi Pháp mới chiếm thì Nam Kỳ chỉ bao gồm 6 tỉnh thôi, Pháp chia Nam Kỳ thành 20 quận, sau đổi thành tỉnh, dưới tỉnh mới là quận (Nam Kỳ không gọi là phủ, huyện như Bắc và Trung kỳ), dưới quận là tổng, xã. Tên các tỉnh hoặc tỉnh lỵ bây giờ cơ bản vẫn dựa trên tên thời Pháp thuộc. Mỗi xã có hội đồng xã hoàn toàn do dân bầu như đã kể ở phần trước. Mỗi tỉnh có 1 hội đồng dân cử, gọi là Hội đồng hàng tỉnh, tương đương với HĐND tỉnh bây giờ.

Hội đồng hàng tỉnh ban đầu không có Pháp kiều, vì số lượng quá ít, sau bổ sung Pháp kiều do hội đồng này có được ban hành các sắc thuế, có đánh vào người Pháp ở địa phương và người Pháp chuyển đến Nam Kỳ sinh sống ngày càng nhiều. Điều này đã từng bị Toàn quyền Đông Dương bác bỏ do e ngại bất đồng ngôn ngữ và cho là người Pháp có quyền trao đổi thẳng với chính quyền địa phương và sự hiện diện của người Pháp làm mất đi tính độc lập của Hội đồng hàng tỉnh (cơ quan tư vấn, phản biện chính quyền do người Pháp quản lý). Sau này Tổng thống Pháp phải quy định là mỗi hội đồng có 2 người Pháp do Toàn quyền chỉ định.

Ban đầu, để có tư cách ứng cử và bầu cử thì người Việt phải là thành viên hội đồng kỳ hào, đã nói ở phần 1. Tuy nhiên, vì hội đồng kỳ hào chỉ có khoảng 11 người ở mỗi làng dẫn đến số cử tri quá ít nên đến năm 1931 thì người Pháp đã nới rộng phạm vi, cho phép những ai có học thức, địa vị xã hội, công trạng với chính quyền bảo hộ, những người có đóng thuế môn bài, nhưng người tốt nghiệp trung học trở lên, cựu quân nhân đều được đi bầu và ứng cử.

Hội đồng hàng tỉnh có thẩm quyền quyết nghị về ngân sách, thuế, đi kiện hay theo kiện, các vấn đề khác thì chỉ có quyền tư vấn. Hội đồng có quyền thỉnh nguyện các vấn đề hành chính, kinh tế, trừ những vấn đề chính trị. Các ý kiến của Hội đồng phải được thông qua bởi Thống đốc thì mới được thi hành.

Ở Bắc và Trung kỳ cũng có hội đồng tỉnh để tư vấn (và chỉ được tư vấn) cho viên công sứ Pháp, nhưng quyền lực hạn chế hơn, thành phần được ứng cử và bầu cử cũng hạn chế hơn Nam Kỳ rất nhiều. HĐ tỉnh ở Bắc và Trung Kỳ có sau Nam Kỳ đến 30 năm.
Ở 3 kỳ có 5 thành phố là Sài Gòn, Chợ Lớn ở Nam Kỳ, Hà Nội, Hải Phòng ở Bắc Kỳ và Đà Nẵng ở Trung Kỳ, đứng đầu là thị trưởng người Pháp. Riêng Sài Gòn, ngoài cơ quan dân cử kể trên thì cơ quan hành pháp, tức thị trưởng, cũng là do dân bầu. Các TP khác là do chỉ định từ cấp trên. Hội đồng TP ở các TP trên có cả người Pháp lẫn Việt. Người Pháp được phổ thông đầu phiếu, người Việt bầu gián tiếp như ở các HĐ tỉnh kể trên.

Ở cấp Kỳ cũng có cơ quan dân cử, ở Nam Kỳ gọi là Hội đồng quản hạt bao gồm đại diện của dân chúng, thương gia và do chính quyền chỉ định. Hội đồng này chủ yếu chỉ tư vấn và có thể bị Thống đốc bác bỏ, nói chung là quyền lực hạn chế. Hội đồng quản hạt cũng có người Pháp và Việt, cách thức bầu cử và ứng cử giống như ở HĐ TP kể trên. Ở Bắc Kỳ cơ quan này gọi là Viện tư vấn bản xứ, Trung Kỳ gọi là Hội đồng tư vấn, chức năng tương tự ở Nam Kỳ.

Như vậy, có thể thấy là, lần đầu tiên trong lịch sử, người dân VN được tham gia bầu cử, được tư vấn, góp ý cho chính quyền thuộc địa. Tuy quyền lực của HĐ còn hạn chế nhưng còn hơn thời phong kiến quá nhiều. Người Pháp lập ra các cơ quan này cơ bản là để làm lu mờ quyền lực của nhà vua, tăng tính dân chủ, tuy còn hình thức. Tuy vậy, người dân Nam Kỳ đã được hưởng nền dân chủ sơ khai này từ rất sớm, nhất là những người được phép đi bầu. Việc hạn chế thành phần đi bầu thoạt nhìn có vẻ bất bình đẳng nhưng cũng có lý, vì những người dân thất học thì không thể đủ năng lực lựa chọn đại diện cho mình. Cách làm này tránh được trò dân túy của các chính quyền hiện đại ngày nay, Thái Lan là ví dụ điển hình với chính phủ nhà Thaksin, họ dễ dàng mua phiếu từ số đông nông dân ít học. Hiện nay 1 số nước khác dùng cách bầu cử đại cử tri cũng là để hạn chế điều này. Thời Pháp thuộc, tuy mất nước nhưng với vai trò của dân đen thì lại được dân chủ hơn thời phong kiến. Với dân đen thì người Việt hay Tây cai trị thì cũng như nhau cả, nhưng Tây cai trị lại có dân chủ hơn. Vừa rồi bên Hongkong biểu tình chống chính quyền cũng là 1 nghịch lý, khi mà người TQ cai trị người TQ lại khiến cho người dân mất dân chủ hơn!
Mấy năm trước trong SG có nói ông Hội đồng nọ kia, hay phát biểu rất mạnh tại Quốc hội, cũng là noi theo truyền thống Hội đồng thời Pháp thuộc này.

TƯ PHÁP

Nam kỳ là xứ thuộc địa, y như 1 tỉnh bên Pháp, nên chỉ có tòa án Pháp, xử theo luật Pháp. Các thành phố nhượng địa ở Bắc và Trung Kỳ cũng như vậy. Tuy nhiên ở Bắc và Trung Kỳ vẫn có cả tòa án Pháp hay nước ngoài ở cấp tỉnh để xử các vụ án có liên quan đến người Pháp, bên cạnh tòa án Việt xử theo luật Việt. Tòa Việt chỉ để xử các vụ án chỉ có người Việt. Hai người Việt cũng có quyền soạn hợp đồng là sẽ giải quyết tranh chấp bằng tòa án Pháp. Như vậy ở 2 Kỳ này có 2 luật pháp song song. 2 loại pháp luật này khác nhau rất cơ bản.

Tòa án Việt thì cơ quan hành pháp và tư pháp không phân biệt, tức là ông quan tri huyện, tổng đốc... kiêm luôn việc xử án, như bên Tàu thời phong kiến vậy. Ông quan này kiêm luôn việc chỉ đạo điều tra, công tố, all in one! Ngoài ra thì quyền bào chữa không được coi trọng và bất bình đẳng giữa các sắc dân. Ví dụ như giới quý tộc thì muốn xử phải được sự cho phép của Tôn nhân phủ của triều đình, các quan đầu tỉnh cũng chỉ bị xử khi được thượng thư Bộ Lại, Hội đồng Cơ mật (hội đồng thượng thư) hay vua, Khâm sứ chuẩn y, tùy cấp bậc, giống như quyền của đại biểu quốc hội bây giờ.

Trong khi đó tòa án Tây thì có sự phân biệt giữa ông hành pháp và tư pháp, có thẩm phán chuyên nghiệp chứ thị trưởng không còn là quan tòa nữa. Thành phần tòa án có Thẩm phán, Lục sự , chánh cẩm (cảnh sát), công tố, hội thẩm nhân dân... y như tòa án hiện đại ngày nay, quan trọng nhất là quyền bào chữa.

Việc xử án của 2 loại tòa cũng chia 3 cấp đệ nhất, đệ nhị, đệ tam như sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm bây giờ, tên gọi có thể thay đổi theo thời gian.

Cũng như cơ quan dân cử kể trên, ở xứ thuộc địa Nam Kỳ thì tư pháp chuyên nghiệp hơn, có sự phân tách rõ ràng giữa hành pháp và tư pháp, nhân quyền sẽ được đảm bảo hơn. Chính vì thế nên người dân VN ở SG, HN...đã từng kiện cả chính quyền và cũng đã từng thắng kiện. Điển hình nhất là vụ đầm Nọc Nại ở Cà Mau, tương tự vụ anh Vươn bắn công an, có điều là dân oan được xử trắng án. Chúng ta cũng có thể thấy, tư pháp XHCN tuy về lý thuyết là phân rõ tư pháp và hành pháp nhưng thực tế không khác với tư pháp phong kiến là mấy vì đảng và chính quyền dễ dàng can thiệp vào bản án và quan chức thì không bình đẳng trước pháp luật so với dân đen. Tây nó cai trị thì nhân quyền lại đảm bảo hơn người Việt trị người Việt!
Chia sẻ:
Post a Comment